Quyền được cười nhạo (Hà Sĩ Phu)


Hà Sĩ Phu

cuoi_nhao"...Châm biếm là một hình thức đặc biệt trong vũ khí phê phán, người phê phán tự xác định mình đứng ở tầm cao hơn cái Ác, chọc để phát ra tiếng cười, để nhân loại có thể giã từ những khuyết tật của mình một cách vui vẻ. Vì thế, con người văn minh rất cần biết và cần quen với vũ khí châm biếm, biết cười nhạo những bất toàn của chính mình cũng như của đồng bào, đồng loại.

(Nhân vụ Charlie Hebdo nghĩ về vũ khí phê phán)
charlie_heddo54
1. Về vụ khủng bố tòa báo Châm biếm Charlie Hebdo
Sự cọ xát, phân định, và đấu tranh giữa các yếu tố đúng-sai, tốt-xấu, thiện-ác, giữa nhân tính và thú tính, lạc hậu với văn minh…của thế giới con người đã làm phát sinh một thứ "vũ khí" đặc biệt là "vũ khí phê phán", mà mức độ cực đoan tồi tệ nhất là "phê phán bằng vũ khí". Phê phán là đấu tranh với nhau dưới mọi hình thức, là hoạt động thiêng liêng để tiến hóa chỉ loài người mới có, thiếu nó xã hội sẽ rơi vào tình trạng hỗn mang của loài vật. Phê phán xuất hiện và tồn tại cùng với loài người và cũng dần dần văn minh hóa cùng với loài người. Nhưng một hoạt động quan trọng và bao trùm như thế tất nhiên không bao giờ đơn giản.
Hãy tạm gác ra ngoài sự "phê phán bằng bạo lực, bằng vũ khí" là hình thức kém văn minh mà nhân loại đang phấn đấu để loại trừ (nhưng nhân loại còn lâu mới đạt được ước vọng đó), sự phê phán hòa bình có thể tạm gom lại dưới 3 hình thức tùy theo vị thế tương quan mà người phê phán tự xác định trước đối phương :
- Phê phán chính luận, vạch cái sai cái xấu của đối tác bằng ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ "chính thống" của đối thoại, trong đó người phê phán đặt đối tác, đối phương ngang hàng với mình.
- Chửi theo đúng nghĩa đen là hình thức phê phán thường là của giới bình dân bị trị, thấp cổ bé họng, tuy bề ngoài có vẻ "ghê gớm" nhưng thực chất đây là vũ khí của kẻ yếu, tự thấy bất lực trước tình hình, không tìm được một "cơ chế" chính thống nào để giành thắng lợi, thôi thì không thành công cũng thỏa nỗi bực trong lòng một chút, bởi phương pháp "chửi" ít khi giành được thắng lợi cụ thể. Ở phạm vi nhỏ thì đó là những cuộc "chửi mất gà" nhưng ở tầm lớn chính là sự "chửi mất nước"- "chửi quốc hận", nên dân tộc nào chất chứa căm giận nhưng bất lực thì thường đưa vũ khí "chửi" lên tầm quốc hồn quốc túy.
charlie_heddo41
- Châm biếm, cười cợt mới là vũ khí phê phán rất đặc biệt. Ở đây, sự khinh ghét hoặc căm giận lại chuyển dạng thành tiếng cười, cười nhạo nhẹ nhàng hoặc sâu cay nhưng tê tái cho đối phương, bởi người phê phán, dù mạnh hơn hay chưa mạnh hơn, nhưng đã đặt mình ở tư thế đứng trên đối phương mà khuyến cáo, mà cười nhạo cho đối phương biết mà sửa, dù sâu cay mấy thì vẫn ngầm một ý khoan dung, không thèm chấp kẻ dưới tầm. Vì thế kẻ bị châm biếm sâu cay thường bị "ngấm đòn", thấy bị nhục, bị đau hơn rất nhiều . Trong 3 hình thức phê phán ôn hòa thì châm biếm gây cười có lẽ là lịch sự và sang trọng hơn cả, nhưng khốn nỗi lịch sự và sang trọng chính là điều mà kẻ bị phê phán không thể chịu được, bởi họ thấy kẻ phê phán đứng ở tầm trên mà họ không cãi được.Vậy không nên ngạc nhiên khi thấy những tín đồ Hồi giáo cực đoan lại căm thù tờ báo châm biếm Charlie Hebdo, chuyên gây cười cho thiên hạ đến thế. Đối với kẻ bị phê phán bằng cách châm biếm thì ẩn sau lòng căm thù là tiềm thức tự ái,vô vọng, tự ty. Tự thấy không thể ngang hàng đối chất, đối thoại, đối biếm, nên chỉ còn cách "phê phán bằng vũ khí", thứ vũ khí dao búa man rợ của thằng khùng. Dù giết được bao nhiêu người nhưng sâu thẳm trong vô thức họ biết họ thua, càng thua càng khùng càng tàn độc. Càng tàn độc càng thua, đó là cái vòng tự kích không có lối ra của tình trạng văn hóa thấp kém trong cuộc đấu tranh và đào thải.
Một điều khiến cho cục diện phê phán trở nên phức tạp vì khi anh A phê phán-chê cười anh B là sai là xấu thì ngược anh B cũng có thể làm như vậy với anh A. Có vẻ như vậy là thật giả bất phân, sẽ "hòa cả làng" ư? Không đâu, trọng tài sẽ là sự thật, sự thật minh định bởi thời gian và quần chúng nhân dân tự do. Nhân dân có thể mất tự do nên bị định hướng trong một giai đoạn nào đấy nhưng không bao giờ mất tự do vô thời hạn.
Song cũng chưa cần đến thời gian và công chúng, sự phân định có thể tức thời. Người mất gà thật mới có sức mạnh tự thân để làm cho tiếng chửi có hồn để thuyết phục. Thủ phạm ăn cắp gà thì dù có tài lấp liếm bao nhiêu cũng không sao có được sức mạnh ấy, họ chỉ có thể dùng những sức mạnh khác để cầm cự, như dùng bạo lực hay quyền lực chẳng hạn.
Trở lại vụ Charlie Hebdo.
Bọn Hồi giáo cực đoan cũng châm biếm các họa sĩ Pháp đi, rất công bằng, ai cấm? Nhưng châm biếm sao nổi? Họ không có sức mạnh của lẽ phải để thốt nên lời châm biếm. Cho nên họ khùng, họ chỉ có thể dùng vũ khí cố hữu của thằng khùng là bạo lực khủng bố. "Phê phán bằng bạo lực" là sự đồng quy của hai thái cực, hoặc của bọn phi nghĩa cực đoan hoặc của chính nghĩa nhưng đang còn hèn yếu, bế tắc chưa tìm ra cách.
Vì thế, tôi đứng hẳn về phía những người châm biếm, mặc dù biết không phải sự phê phán bao giờ cũng đúng, sự phê phán cũng được quyền sai như mọi thứ khác trên đời. Phải biết tôn trọng các Tôn giáo ư? Những hoạt động khủng bố của các lực lượng Hồi giáo cực đoan đã có từ lâu, đã xảy ra trước sự châm biếm của Charlie rất nhiều, ai mà chẳng biết? Sự châm biếm là lời cảnh báo rất nhân đạo của nhân loại đối với loại Tôn giáo cực đoan. Những người Hồi giáo không cực đoan dù oan uổng cũng phải liên đới chịu trách nhiệm trước bọn đồng đạo cực đoan kia. Chừng nào những người Hồi giáo nhân ái chưa có tiếng nói chính thức chối bỏ và có hành động trừng trị hữu hiệu đối với bọn đồng đạo cực đoan thì họ phải chịu chung sự phê phán là đương nhiên. Cũng giống như chừng nào đảng Cộng sản không có khả năng trừng trị bọn tham nhũng và bán nước từ trong đảng của mình sinh ra thì chừng ấy chính Đảng cộng sản phải gánh lấy sự phê phán tội "tham nhũng và bán nước" trước lịch sử, làm sao khác được?
Những kẻ bịt toàn thân trong tấm trùm đen, tay lăm lăm cây dao nhọn, chuẩn bị cắt cổ, chọc tiết, phanh thây những con tin để đòi tiền chuộc thì không được quyền nhân danh một con người, làm gì có quyền nhân danh một tôn giáo? Và tôn giáo nào cho chúng được phép nhân danh thì cái gọi là "tôn giáo" ấy hoàn toàn không còn chỗ đứng trong cộng đồng các tôn giáo của nhân loại. Phê phán thứ quá khích đội lốt tôn giáo ấy hoàn toàn không phải là đả kích tôn giáo, xin các nhà hảo tâm, đạo đức nhẹ dạ đừng lầm. Dùng hình thức châm biếm để phê phán tính thú vật ấy là còn quá nhẹ nhàng và nhân ái đối với chúng. Toàn nhân loại phải hiệp lực để đẩy lùi đại nạn thú tính ấy, để đẩy chúng vào bóng đêm rừng rú của thời tiền sử, trả lại cho nhân loại sự yên bình, chứ không thể vì chúng quá "mạnh", quá ác hoặc quá tinh vi mà Chính nghĩa phải rút lui rồi tự trách đồng đội của mình sao lại dại dột phê phán chúng, dù chỉ phê phán bằng sự chê cười ! Kẻ thù càng hung hãn xảo quyệt thì càng phải hiệp lực để tìm bằng được cách trừng trị. Thế giới Nhân tính lại thua thế giới Thú tính hay sao, nếu thế làm gì có Tiến hóa? Bênh vực hay tránh né bọn tà giáo cực đoan không phải là tôn trọng tôn giáo mà là làm nhục danh hiệu tôn giáo, làm nhục các tôn giáo chân chính.
Tóm lại :
- Cười hay châm biếm gây cười là hình thức phê phán lịch sự, văn minh, ở tầm cao hơn đối tượng được/bị châm biếm.
- Châm biếm là một động lực thúc đẩy tiến hóa, thúc đẩy văn minh, nên châm biếm phải là một quyền trong nhân quyền, như một bộ phận của tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí.
- Mỗi người có quyền thích hay không thích hình thức châm biếm nhưng đã là quyền thì phải được pháp luật quốc tế và luật trong nước bảo vệ, không ai được ngăn cản hay ngăn cấm.
- Cũng như mọi hình thức phê phán ôn hòa khác, châm biếm có thể đúng cũng có thể sai nên tất nhiên ai cũng có quyền "phản châm biếm". Châm biếm khác với vu cáo, vu cáo thì đã có quy định rất cụ thể trong luật mà nước nào cũng có.
Nói một cách dễ hiểu thì một người trong xã hội có quyền "Cười" châm biếm và rất nên biết cười và gây cười để "giã từ những hư hỏng, tệ đoan một cách vui vẻ".
2. Dân tộc tự phê phán
- Có nên viết về khuyết tật của người mình không?
Trong các quy mô phê phán thì sự phê phán các tính cách của Dân tộc mình có một ý nghĩa vô cùng trọng đại, nó giúp cho sự canh tân và phát triển toàn cục của một xã hội, một quốc gia. Biết ưu điểm của Dân tộc để tự hào và biết nhược điểm để sửa chữa, cả hai mặt đều quan trọng, nhưng khi người ta bằng lòng với quá khứ và hiện tại thì thường thiên về tự hào, trái lại khi muốn có thay đổi cho hiện tại và tương lai thì tự nhiên sẽ xuất hiện nhu cầu phải tự phê phán Dân tộc, giống như khi con người muốn chạy về phía trước thì môi trường tự nhiên sinh sức cản và ta phải làm sao thắng được các lực cản ấy. Ví dụ khi Hồ Chí Minh muốn vận động dân chúng làm cách mạng thì năm 1926 trong một bài giảng ở Quảng Châu đã đề cập đến "hai nhược điểm lớn của dân Việt là mất đoàn kết và …không biết hay biết rất ít về tình hình toàn cầu", ngoài ra "vấn đề lớn nhất ở làng bản Việt Nam là vấn đề sĩ diện và ngôi thứ" (1). Muốn vận động dân chúng để cứu nước các cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu cũng phải phê phán nhau và phê phán dân tộc quyết liệt. Từ khi chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ, trước nhu cầu phải đưa xã hội thoát khỏi một giai đoạn sai lầm nghiêm trọng, nhu cầu tự phê phán những nhược điểm của người Việt mình lại một lần nữa nổi lên, lôi cuốn nhiều tác giả với nhiều bài viết, trong đó nhà văn Vương Trí Nhàn là một tác giả có nhiều đóng góp.
Từ sau năm 1975 bên cạnh xu hướng tự sướng, tự ca ngợi, ngồi chễm trệ ở chốn bình yên mà nhấm nháp ly rượu chiến thắng thì nhà văn hóa Cao Xuân Hạo đã kịp thời cảnh báo "Một nhà hiền triết cổ đại có nói rằng, một trong những nhân tố quan trọng nhất khiến cho một dân tộc, một triều đại, một nhà vua, một tướng lĩnh sa đọa nhanh nhất chính là một trận đại thắng lẫy lừng khiến cho người ta có ảo giác là mình bất khả chiến bại, mình là tinh hoa của nhân loại, mình là tuyệt đối hoàn hảo. Đó chính là dấu hiệu chắc chắn nhất của sự suy đốn và đồi bại. Cho nên, sau một thắng lợi lớn, nguy cơ suy vong của một dân tộc không những không mất đi, mà còn tăng gấp bội" (2) .
Trái với lời răn đã quen khi viết phê bình là phải "nghiêm túc, đúng mực, không quá lời, để đối tượng dễ tiếp thu", Giáo sư Cao Xuân Hạo nói thẳng ra rằng phê phán Dân tộc
là : "phải phóng tay phát động lòng dũng cảm của họ lên, dẹp lòng tự ái dân tộc đến tối đa", có thể dùng "giọng điệu giễu cợt cay độc đến đâu chăng nữa", "còn phải làm cho mỗi người Việt thấy xấu hổ những nhược điểm ấy một cách sâu xa", "dù những lời chê bai của họ chỉ đúng với một thiểu số không đáng kể".
Vậy đó, ý kiến Giáo sư Cao Xuân Hạo mà tôi tin chắc mỗi người trí thức còn nặng lòng và còn "khổ tâm" với dân tộc mình đều phải đồng tình, là những ý kiến quyết liệt, minh bạch và chính xác, nên đọc kỹ lại nhiều lần.
3. Nhưng tự phê phán Dân tộc mình lúc này coi chừng nguy hiểm
Ở đây tôi xin phép được dẫn một ví dụ thiết thân vì nghĩ rằng nó có tính điển hình : một phía đang "đắc ý" với Dân tộc để giữ yên, một phía muốn "phê" Dân tộc để có đổi mới nên người ta ghét nhau đến mức quy kết nhau đến tội "phản quốc", tội nặng nhất trong luật hình sự.
Ấy là vào năm 2000. Sau khi thấy Khối Cộng sản Đông Âu đổ sụp, không ít người tin chắc chế độ cộng sản Việt Nam cũng sắp đổ theo, từ đó rủ nhau ký một kế hoạch hành động chuẩn bị cho sự đổ ấy, kế hoạch có tên "Kết ước năm 2000". Nhưng trong một cuộc phỏng vấn tôi đã quả quyết "cộng sản Việt Nam không dễ đổ như Đông Âu, đừng vội mừng" (tôi nói y như giọng bênh vực Đảng của Ban Tuyên giáo cộng sản vậy). Hai ông Đỗ Mạnh Tri và Nguyễn Gia Kiểng ở Pháp viết thư hỏi tôi đại ý "căn cứ vào đâu mà tôi có ý kiến ngược đời như vậy", tức là cần phân tích những đặc điểm riêng của Việt Nam. Tôi viết 2 bức thư trả lời (3), tuyên bố không ký vào văn bản "Kết ước" đó và giải thích vì sao tôi không ký. Nếu chỉ có thế thì chắc Đảng cộng sản đã "khen thưởng" tôi rồi. Nhưng khốn nỗi ở nội dung của lời giải thích, trong đó có mấy ý nổi bật khiến cho chúng tôi, tôi và ông Mai Thái Lĩnh (4) bị khởi tố tội "phản bội Tổ quốc", cấm tự do đi lại và ngày hai buổi lên làm việc hỏi cung với An ninh của Bộ Công an suốt 8 tháng trời !
Đại ý luận điểm của tôi về tính cách của Dân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam như sau :
- Là thân phận bị mấy nghỉn năm cai trị bởi vua chúa và kẻ thù khổng lồ phương Bắc nên đã hun đúc trong người Việt Nam tính khôn vặt, khôn lỏi, không thể chống đối ra mặt nên phải giả vờ phục tùng để tồn tại, nhưng bên trong phải tính toán sao cho có lợi nhất. Vì thế Dân với Đảng cùng giả vờ tôn vinh nhau nhưng bên trong tìm cách vô hiệu hóa ngón đòn của nhau để giữ gìn hoặc vun vén lợi ích riêng. Cặp hôn phối "mạt cưa mướp đắng" này cứ thích nghi với nhau, còn sống được với nhau mấy chục năm nữa. Khi Đảng cộng sản nói "Đổi mới hay là chết" là họ khiêm tốn quá đấy, cứ yên tâm, ở Việt Nam này cộng sản không đổi mới tử tế gì cũng chưa chết như Đông Âu đâu.
- Ở Châu Âu nếu có tảng đá khổng lồ chắn ngang xa lộ thì người ta hò nhau giải quyết tảng đá, nhưng người Việt Nam chẳng dại đối đầu với tảng đá, mỗi anh đều khôn lỏi tìm đường hẻm để lách qua, cuối cùng ai cũng đi qua nhưng tảng đá vẫn còn nguyên, mọi người gặp nhau đều khoái trí, phục nhau là khôn.
- Ở Việt Nam sẽ chẳng có gì đổ hết, vì muốn đổ thì vật phải có một hình dạng để đứng lên như cái chai, cái cốc. Việt Nam là một thể vô định hình như một khối bùn nhão, không định hình thành một chủ nghĩa gì cả, chỉ vá víu chắp nhặt hẩu lốn mỗi thứ một tí để tồn tại nên chẳng có hình thù gì để mà "đổ" ! Vả lại một dân tộc lạc hậu vẫn có thể "đi lên" theo đuôi nhân loại văn minh theo kiểu ký sinh như con chấy con rận bám trên lưng con hổ thì cũng tung hoành khắp nơi như con hổ đó thôi.
- Xã hội Việt Nam như một con đường làng chật hẹp, đoàn người cứ phải đi sau Đảng như đi sau một con trâu mộng sừng nghênh ngang nhọn hoắt, ai vượt lên thì nó húc chết, đành kiên trì đi sau nó một cách chậm chạp, thỉnh thoảng nó lại ị cho một bãi… Xã hội Việt Nam như một đồng cỏ khô nhưng một que diêm không thể làm bùng cháy vì đồng cỏ đã được Đảng phun chất chống cháy rồi…
- Tất cả những đặc điểm ấy của người Việt Nam là do truyền thống quý báu 4000 năm để lại cũng chỉ đúng một phần, phần lớn là nhờ Đảng ta đã dày công đào tạo, dạy dỗ…
Đại lược là như thế, đã không ký vào văn bản chống Đảng, lại bảo Đảng này còn lâu mới đổ, bênh Đảng hơn cả Ban Tuyên giáo nhưng chỉ vì cái giọng cười cợt châm biếm, khinh bạc mà bị khởi tố đến tội phản quốc.
Nhưng chẳng hiểu sao sau 8 tháng hỏi cung, chúng tôi chuẩn bị tinh thần ra tòa với cái án tù hai chục năm là nhẹ cho tội phản quốc, thì đùng một cái có lệnh đình chỉ vụ án, thật là súyt chết ! (nghe đồn chúng tôi thoát chết vì trong Bộ Chính trị không nhất trí, từ đấy cứ thấy trong Bộ Chính trị có mâu thuẫn với nhau là chúng tôi mừng lắm).
Nhưng chưa xong, vụ án bị đình chỉ, không ra tòa, nhưng cái "tội" dám châm biếm cả "ý Đảng" lẫn "lòng Dân" thì không tha được. Nguyễn Như Phong, phó biên tập của tờ An Ninh Thế giới viết một bài dài "Mặt thật của một vài người mượn danh hiền sĩ" (5), cứ như báo An Ninh có quyền thay mặt quan tòa quy tội chúng tôi đủ điều, trong đó có một đoạn dài trích lời châm biếm của Hà Sĩ Phu đối với thực trạng xã hội Việt Nam :
"Hà Sĩ Phu viết về nhân dân Việt Nam bằng ngôn từ như thế này : Vô lý, nhân dân chết cả rồi sao? Chết cả rồi, bị tiêm thuốc chết cả rồi. Số còn ngoắc ngoải thì không phải là nhân dân, hay nói cho công bằng thì họ chỉ được là công dân loại hai, như dân thiểu số vùng cao. Đừng thấy đám đông phóng xe máy, nghe máy bộ đàm, gõ máy vi tính, hát karaoke, báo cáo trên tivi về thành tích biết làm giàu, lĩnh giải này giải khác mà tưởng nhân dân đang sống mãnh liệt. Vẫn tưởng có cơm ăn áo mặc, vẫn ngày biết thêm một vài thứ văn minh mà trước đây chưa từng được biết tới…vẫn được nước ngoài viện trợ, vẫn có khối thứ để tự hào, vẫn thấy con hơn cha tưởng nhà có phước… Bao kẻ anh hùng đánh giặc ngoại xâm lại trở nên hèn mạt và vô cùng nhỏ bé trước danh lợi, thần quyền và thế quyền. Kẻ có dũng thì ngu dốt, kẻ có trí thì hèn, kẻ có trí có dũng thì láu cá vị kỷ bất nhân…".
Và theo Nguyễn Như Phong thì một kẻ đã phê phán Dân tộc mình như thế thì "phải trục xuất Hà Sĩ Phu ra khỏi Đà Lạt. Nhưng thưa bà con, trục xuất đi đâu, liệu có quốc gia nào sẵn lòng nhận những người như vậy không, còn trên đất này đâu chả là đất Việt và chỗ nào là chỗ mà ông ta yêu quý? Trong vụ án này Hà Sĩ Phu đóng vai trò là người cầm đầu, hung hăng nhất trong việc đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận động các tổ chức quốc tế, các chính phủ gây sức ép làm xâm hại đến độc lập, chủ quyền của Nhà nước Việt Nam".
Thực tình thì Hà Sĩ Phu mới chỉ làm mỗi một việc là phê phán ôn hòa, nhưng cái giọng thì hay ví von, châm biếm : phê phán chủ nghĩa Mác-Lê phi khoa học và độc đoán, phê phán những những nhược điểm của tính cách dân Việt Nam đã tạo ra mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa kia mọc rễ và nương náu, chậm bị đào thải, chứ Hà Sĩ Phu đã làm được gì đâu mà đại tá công an Nguyễn Như Phong đã quá phong tặng? Có người bạn đã thân ái nhận xét : "Cũng nội dung ấy nhưng ông đừng ví von, châm biếm người ta mà cứ nghiên cứu, kiến nghị, góp ý như một con dân trong hệ thống thì đâu đâu khiến ngưới ta phát khùng lên như thế? Thôi rút kinh nghiệm !". Vâng, nhưng bảo một người có máu châm biếm như Charlie Hebdo đừng vẽ biếm họa nữa mà hãy viết một bài góp ý chân tình với Hồi giáo đi thì cuộc đời đã chẳng còn là cuộc đời.
Lời kết
Phê phán là một vũ khí mà Tạo hóa đã ban cho để Con người biết dìu dắt nhau thoát khòi thế giới súc vật dã man và ngày càng biết sống cho ra Con người. Vũ khí phê phán ôn hòa đang mở ra hy vọng để có thể chấm dứt sự "phê phán bằng vũ khí". Nhưng những hệ quyền lực chỉ biết chọn độc tài làm phương thức sinh tồn thì họ rất ưa miệt thị người khác chứ không chấp nhận cho người khác phê phán mình, nên họ không thể dùng vũ khí phê phán ôn hòa và công bằng, mà cứ kiên trì con đường "phê phán bằng vũ khí", từ dao búa và chất nổ, đến trại giam, tù ngục, hay bạo lực côn đồ.
Châm biếm là một hình thức đặc biệt trong vũ khí phê phán, người phê phán tự xác định mình đứng ở tầm cao hơn cái Ác, chọc để phát ra tiếng cười, để nhân loại có thể giã từ những khuyết tật của mình một cách vui vẻ.
Vì thế, con người văn minh rất cần biết và cần quen với vũ khí châm biếm, biết cười nhạo những bất toàn của chính mình cũng như của đồng bào, đồng loại.
Hà Sĩ Phu
Chú thích :
(1) Giáo sư Trần Quốc Vượng - Cần sửa đổi lề lối nghiên cứu lý luận-Xưa và nay, 20/2/2001
diendan.nuocnga.net (10-11-2009)
(4) Năm 2000 tôi vẫn bị khống chế lai rai nên chưa có Internet, thư Email phải nhờ ông Mai Thái Lĩnh chuyển giúp.
(5) Báo An ninh thế giới, từ số 210. ra ngày 4/1/2001
Continue Reading... Nhãn:


Những lời trăn trối của Trần Đức Thảo



Hình bìa tác phẩm 'trần đức thảo những lời trăng trối'

Những lời trăn trối của Trần Đức Thảo

Phạm Thanh Tâm


Hồ Chí Minh: con khủng long ba đầu, chín đuôi

Đã có nhiều tác giả tây ta viết về nhân vật Hồ Chí Minh (HCM) riêng cuốn Trần Đức Thảo Những Lời Trăn Trối là cuốn rất đặc biệt vì sách đã “phân tích sư thật về những hành động khủng khiếp” của họ Hồ bởi một triết gia “lỗi lạc của Việt Nam và thế giới.” Năm 1951 ông bỏ Paris về bưng, qua ngả Mạc Tư Khoa, tham gia kháng chiến chống Pháp; đã từng “trải nghiệm gian khổ trong chiến tranh, trong cách mạng” suốt 40 năm. Nhà triết học họ Trần trước khi mất đã khẳng định, Marx đã gây ra mọi sai lầm và tội ác. Ông còn nói, chính “cuồng vọng lãnh tụ” đã khiến “ông cụ” là một con người “cực kỳ vị kỷ, bất chấp những chuẩn mực của lương tri, của đạo lý.” Theo ông, đây là “một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời” và “là một con khủng long ba đầu, chín đuôi.”
Continue Reading... Nhãn:


Tử huyệt: Tước đoạt kẻ tước đoạt



Bùi Tín (VOA) - Họ giật mình là phải lẽ. Họ sợ, vì bị điểm trúng tử huyệt. Cái huyệt chết người. Người dân trước cuộc "triển lãm" của cuộc sống thật khắp nơi nhận ra bất công xã hội không thể chấp nhận nổi nữa, đang không đòi gì hơn là lẽ công bằng: Phải tước đoạt lại của những kẻ tước đoạt để trả về cho nhân dân, cho xã hội. Và ngay lúc này... 

*
Continue Reading... Nhãn:


Hồ Gươm nổi sóng!


Nguyễn trà Vinh

        
Tôi ra Hồ Gươm thật sớm, sau khi nhận được dòng tin ngắn từ Th. một người bạn thân đang sống tại Tokyo rằng sẽ có biểu tình vào trưa nay, ngày 31/5 để phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Và cũng từ người bạn này, bằng thiết bị viễn thông di động, tôi thức dậy sớm hơn mọi ngày vì nôn nao được nhìn cũng như nghe từng tiếng hô nức lòng vang dội giữa thủ đô xứ Phù Tang, nơi tôi đã trải qua một quãng đời tuổi trẻ với nhiều kỷ niệm đẹp.
Continue Reading... Nhãn: ,


17 ý tưởng biểu tình


Từ Linh
JPEG - 50.3 kb
Bất bình
Nga vừa ngang ngược nuốt chửng Crimea của Ukraine, trong khi phương Tây lừ đừ, thì Trung Quốc có ngay một quả Crimea xấc láo khác khi cắm giàn khoan HD 981 trên vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Đây là một cú tát, nổ đom đóm. Tát vào mặt các đồng chí Việt Nam vẫn lảm nhảm 4 tốt 16 vàng, tát cả vào mặt phương Tây và Tổng thống Mỹ Obama, người mới vừa kết thúc chuyến công du khẳng định chuyển trục về Châu Á. Nếu Mỹ không làm gì trước biến cố này thì mọi đảm bảo của Mỹ mới đây với Nhật, Hàn, Malaysia, Phillippines sẽ chỉ là trò đùa của một con “cọp giấy”, làm mất mặt Mỹ.

Continue Reading... Nhãn:


Hanami và… hạnh phúc không quên


Vũ Đăng Khuê


Hanami
Đã sang tháng 4 bắt đầu mùa nắng ấm, mỗi khi ra đường tuy không phải khoác những bộ áo “giáp” trên người nhưng đôi khi có một chút gió hiu hiu ở đâu đó lại “nhè nhẹ” len vào da thịt. Cảm giác thật bình yên dễ chịu. Tr...
Continue Reading... Nhãn:


Ăn Phở Hà Nội


Cũng trên diễn đàn này, mới đây tôi đã giới thiệu về món Phở ở “quê hương tôi” qua bài “Ăn phở ở Tokyo”. Bài viết được bắt đầu trong lúc Tokyo lạnh buốt khiến tôi mơ…. về Phở và chấm dứt bằng niềm thương nhớ phở. Dù 1 tuần lễ đã trôi qua, nhưng tôi vẫn còn ngất ngây với… phở, vừa đúng lúc tìm lại được một “tâm tình” của một người xa xứ lâu năm khi nhớ về…. phở chính gốc xứ Hà Thành. Giới thiệu luôn cho …. có anh có chị.
Cố nhà báo Lê Thiệp, ông phở 75, nổi tiếng suốt cả vùng Hoa Thịnh Đốn, một chuyên gia về phở tại Hoa Kỳ sẽ kể cho chúng ta nghe “cảm tưởng” khi ông đi ăn phở Bát Đàn, phở ngon nhất Hà Nội cùng những ghi nhận về sự thay đổi của khung cảnh xung quanh sau hơn 50 năm ông xa cách.
Vũ Đăng Khuê

Ăn Phở Hà Nội



Một trong những cái háo hức nhất khi đặt chân xuống phi trường Nội Bài là sẽ được ăn phở Hà Nội, phở chính gốc, phở của những ông Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân. Đọc các vị văn sĩ của đất Hà Nội trở nên một ám ảnh lớn, một ước ao tưởng như không bao giờ có được khi còn ở miền Nam. Cứ nghe ông Nguyễn Tuân bảo “Ôi, một giọt nước mà lóng lánh cả quê hương” thì lòng lại rộn lên, thấy mũi như đang cố hít lấy cái hương vị của một bát phở Hà Nội, bát phở trong ước mơ. Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu còn viết:
Phở là quà đáng quí ở đời
Một vài xu nào đắt đỏ mấy mươi
Mà đủ vị ngọt ngào thơm béo bổ

Ngọt, bùi, thơm, béo, bổ....Thế thì còn gì hơn nữa. Buổi sáng đầu tiên ở Hà Nội mở cửa nhìn xuống đường. Đường phố hẹp, ồn ào với không khí oi nồng của mùa hè dù mới rạng sáng nhưng đã phà vào mặt. Đứa em long trọng mướn một cái ô tô con để hai anh em cùng về làng. Đi được độ mười lăm phút tôi bảo:
  • Đói rồi, kiếm tô phở ăn cho chắc bụng đã chứ hả? Năm chục năm chưa ăn lại phở Hà Nội.
  • Sao anh không nói ngay. Chỗ anh ở đường Bát Sứ có phở Bát Đàn nhất Hà Nội. Gần ngay đó. Nhưng bây giờ quay trở lại sợ tắc đường.
Tắc có nghĩa là kẹt đường. Tôi bắt đầu làm quen với đất Bắc thân yêu bằng
những từ ngữ không quen thuộc như “Đại Trà” là giàu có, là nhiều vô số kể. Tôi cười.
  • Tắc thì thôi, nhưng ở Hà Nội chỗ nào chả có phở phải không?
  • Để em coi.
Và sau vài câu bàn bạc với ông tài xế, chiếc ô tô con quẹo vào một con đường khá lớn. Đến chỗ, xe tấp vào và đứa em thò đầu qua cửa hỏi lớn:
  • Còn phở không?
Từ phía trong căn hộ tối, một người dơ tay xua xua. Cảnh đó tái diễn độ hai lần cho đến lần thứ ba thì kết quả lạc quan với tiếng đáp lại:
  • Còn.
Cậu em giải thích:
  • Ăn phở Hà Nội thế đấy anh ạ. Hàng nào cũng có phở nhưng chuyên phở mới ngon. Hồi bé anh em mình chỉ toàn ăn phở gánh anh nhớ không?
Tất nhiên là nhớ. Bởi vậy mới trở về. Nhưng những bát phở của tuổi thơ chỉ là những hình ảnh lúc hiện lúc mất và cái lưỡi nếm mùi vị thức ăn của thiên hạ đã nhiều nay muốn tìm lại hương vị ngày xưa.
Quán vắng tanh, không một người khách. Hai anh em tôi và cậu tài xế chiếm cái bàn gần cửa để ít nhất có một tí gió trời. Tôi hỏi:
  • Có phở gì em?
  • Anh muốn ăn phở gì?
  • Có sụn, có gân, có gầu không?
Nghe tụi tôi hỏi han nhau, ông hàng phở góp tiếng:
  • Ối dào, lấy đâu ra của quí thế. Đây chỉ có nạm thôi.
  • Ông cho tôi một bát chín nạm vậy.
  • Em ăn tái trần.
Cũng lại lâu quá mới nghe lại chữ tái trần. Mỗi lúc tôi cảm thấy như gần lại tuổi thơ. Ối dào. Tái trần. Đó không phải là ngôn ngữ ở miền Nam. Ở miền Nam, chúng tôi quen với những tiếng Sức Mấy hay Tái Sống. Tôi ngồi đó trầm ngâm nhìn ra bên ngoài. Xe cộ ở Hà Nội vẫn chưa đến nỗi đông quá như ở các thủ đô trên thế giới. Tất nhiên là xe gắn máy gấp mười xe hơi, có thể nhiều hơn nữa là khác. Tôi vẫn nghe các ông bạn dọa rằng Sài Gòn bây giờ xe gắn máy như ruồi nên không lấy làm ngạc nhiên lắm.
Ba tô phở được bưng ra. Tô đúng là loại Bát Tràng, khá dày và trắng với hoa văn màu xanh nhòe nhạt. Tôi ngửi thấy mùi gây bò bốc lên và chợt nhớ đến lời phát biểu của ông bạn già Trương Cam Vĩnh: “Cậu phải hiểu phở bây giờ nó mất đi cái hương vị ngày xưa vì thiếu mùi gây bò. Thịt bò bên Mỹ nó sạch quá, mất hay. Tớ vẫn cứ nhớ cái mùi đặc biệt đó. Cả Sài Gòn chỉ có phở Tàu Bay là còn giữ được cái mùi truyền thống này thôi”.
Tôi lẳng lặng kéo bát phở có mùi truyền thống lệch sang một tí. Đứa em đẩy cho tôi một cái đĩa nhôm vênh vao, ở trên lổn nhổn dăm ba trái quất nhỏ bằng đầu ngón tay cái đã cắt đôi. Thấy vẻ mặt tôi, Hòa, đứa em tôi cười:
  • Chanh đắt lắm và không có nước nên dân Hà Nội thay chanh bằng quất. Cũng được anh ạ.
Tôi cười cầm nửa quả quất hơi xanh xanh vàng vàng lên vắt. Ba cái hột từ trong vọt ra, to cỡ hột đậu xanh. Hòa cười ngất bảo:
  • Anh bóp từ từ chứ nhanh thế chỉ có hột ra mà không có nước.
Đầu óc tôi lóe lên một chi tiết mới. Dạo đang lớn lên ở Sài Gòn, ông chú tôi đi ăn phở vẫn cằn nhằn về vụ chanh. Ông bảo dân Sài Gòn không biết ăn. Ăn phở phải dùng dấm, mà dấm ta mới đúng, mới dậy mùi phở. Hỡi ôi, miền Nam trù phú, chanh quả nào quả ấy to như quả ổi mong những nước và với thế hệ tôi thì không đứa nào nghĩ đến chuyện chan một thìa dấm vào tô phở cho nó đúng truyền thống. Phải chăng cái truyền thống đó hiện hữu chỉ vì quê tôi nghèo quá, quả chanh cũng sắt lại, cũng quắt đi nên phải lấy dấm thay chăng?
Những ý nghĩ lẩn quẩn và cái đầu óc còn lãng đãng vì chưa quen giờ giấc khiến tôi ăn gần hết bát phở. Lúc đó có một chiếc ô tô con nữa ghé sát lề và cũng có tiếng gào: “Còn phở không” và tiếng đáp cũng rất to “Hết phở rồi”. Tôi nhìn vào chỗ quầy phở. Quầy được đóng bằng tôn và có lẽ vì trường kỳ kháng chiến nên đôi chỗ đã lỏm xuống và màu nhôm nay đã ngả sang nâu vàng. Tôi cố tưởng tượng đến một bó hành lá xanh ngắt, đọt thì trắng tươi treo lủng lẳng ở trên quầy như tôi vẫn thấy hồi bé. Bó hành của các xe phở hồi xưa nay mất hút nơi đâu. Hai người thanh niên đang loay hoay với cái thùng chứa nước sôi nhúng bánh phở. Hơi nóng vẫn nghi ngút hỏa. Họ bê cái thùng nhôm tròn dài đó lên và khiêng ra hè, sau đó nghiêng thùng để đổ cái nước đục trắng ngay vào miệng lề đường. Sau đó, họ lôi cái thùng nước lèo ra và cảnh cũ lại tái diễn, điều khác duy nhất là một người cầm cái vợt hứng, chắc là để cặn nước lèo như vụn xương hoặc xác hành gừng không lọt xuống hệ thống cống rảnh thành phố. Âu cũng là một thái độ đáng quí, giữ vệ sinh chung cho mọi người.
Mãi quan sát, tôi quên phéng mất bát phở và khi cầm đũa thì thấy bát phở đã nguội, váng mỡ bắt đầu hơi đông lại nên đành bỏ qua cái ước muốn thưởng thức cho hết mùi vị phở chính truyền Hà Nội. Hòa tinh ý phát biểu:
  • Chắc tại cuối nồi họ tắt bếp nên phở nguội quá. Ngày mai em dẫn anh đi ăn phở Bát Đàn ngon nhất Hà Nội.
Sáng hôm sau tôi dậy sớm, phần vì lạ giường lạ chiếu, phần vì đủ thứ tiếng động, tiếng ồn từ đường phố vọng lên. Hòa hẹn tôi cỡ chín giờ nên tôi đành ngồi chèo queo bật Ti Vi xem. Rất nhiều kênh ( chữ mới toanh tôi vừa học được hôm qua) và đủ thứ ngôn ngữ: ta, Tàu, Nhật, Thái, Mỹ, Pháp, loạn cào cào. Ấy có cả Đại Hàn nữa. Phim không được chuyển âm má có một cô đọc theo như lối kể chuyện. Giọng cô xướng ngôn viên đôi khi cố để mô tả cảnh huống trong phim lúc cao, khi xuống thấp nhưng trước sau chỉ có một giọng. Loay hoay một hồi khá lâu, tôi đâm chán và thấy đói. Tôi bò xuống lobby cái mini hotel hỏi thăm:
  • Anh ơi, phở Bát Đàn có xa đây không?
  • Ối, ngay đây ấy mà.
Anh ta vung tay lên gạch ngang trên không giảng giải:
- Đây nhé, hotel chúng cháu ở phố Bát Sứ. Bác đi ra độ năm chục bước là phố Bát Đàn. Bác rẽ phải đi một quãng là thấy phở Gia Truyền Bát Đàn. Khiếp, ai mách nước mà nhanh thế. Cả Hà Nội chỉ có phở Bát Đàn là nhất đấy Bác nhá. Ăn sớm mới còn, độ chín giờ là hết phở Bác ơi.
Tôi cảm thấy vững bụng. Ít ra thì cũng có hai người dân Hà Nội đồng ý và như vậy phở Bát Đàn phải ngon. Lửng thửng tôi đi theo lời chỉ và thầm cho mình thông minh. Nếu chờ Hòa có khi lại hết phở cũng nên. Tôi có hỏi về vụ hết phở này. Tại sao không mở suốt ngày? Chẳng ai giải thích cho tôi cho đến trước khi rời Hà nội mới được gặp một vị lão tiền bối ba bảy đời ở Hà Nội. Ông cụ có vẻ từng trải, đã vào Sàigòn nhiều lần, bảo.
  • Ông xa quê hương lâu ngày nên quên mất đấy chứ. Ngày xưa Hà Nội chỉ ăn phở buổi sáng cho đến nửa buổi trưa. Ông nhắc đến các ông văn sĩ tiền chiến, thế có ông nào tả cảnh ăn phở trưa, ăn phở tối như ở Sàigòn không?
Tôi cứng miệng không biết nói sao vì suốt từ khi mới lớn cho đến lúc trưởng thành, tôi ăn phở sáng trưa chiều tối, cả nửa đêm nữa. Sàigòn đâu có lúc nào thiếu phở. Thấy mặt tôi tên tỏ, ông bạn vong niên tủm tỉm cười.
  • Ông xa quê lâu quá thế có biết yến phở là gì không?
Tất nhiên tôi không biết, ông cụ cười bảo:
  • Thế là quên tiếng Việt rồi nhá. Yến là đơn vị đo lường ngày xưa. Một yến nặng tương đương với tám cân. Người ta cân bánh phở bằng yến ông ạ. Thế mới lạ chứ! Nhưng tôi vẫn thấy gọi một yến phở nó thơ mộng hơn. Đấy, nó thế đấy! Dân Hà Nội chính gốc chúng tôi vẫn cố giữ nếp nhà, mỗi hàng phở chỉ bán sớm đến gần nửa buổi, giỏi lắm là chục yến phở. Làm gì có cảnh ăn phở ồ ạt như Sàigòn.

Nhưng sáng sớm hôm đó tôi chưa được giáo dục để hiểu tại sao phở Hà Nội hết sớm thế. Khi tôi tới thì thấy đã có bảy tám người sắp hàng chờ và tôi lại càng yên tâm hơn. Tôi tự kiểm điểm chính mình. Nhất định trông tôi giống y như dân Hà Nội với một cái áo sơ mi dài tay buông thòng để ra ngoài quần và chiếc quần cũng đã tàn tàn. Chân tôi đi đôi dép nhựa của mini hotel. Tôi yên tâm vì không ai thèm nhìn tôi cả. Khi gần đến lượt, tôi chú ý quan sát để khỏi ngớ ngẩn. Phở có hai giá 8000 và 10000 đồng. Thêm dầu cháo quẩy 1500 đồng. Phở truyền thống Hà Nội ngày xưa làm gì có dầu cháo quẩy? Hồi đó dù mới chín mười tuổi tôi vẫn còn nhớ không hề có vụ dầu cháo quẩy. Hay là vì những năm hữu nghị thắm thiết môi hở răng lạnh nên cái ông Tần Cối này mới có dịp nằm chểm chệ trên tô phở Việt Nam. Đàng sau cái bàn học nhôm có ba người. Một người phụ nữ đứng giữa, chuyên nhận “óoc đơ” và thu tiền. Phía bên trái là một người đàn ông chuyên thái thịt. Phía bên phải là một ông khác lo nhúng bánh và chan nước lèo. Tôi quan sát thấy tô phở không được lớn lắm mà tôi thì đói meo nên mở miệng.
  • Một tô chín nạm, với một tô chín nạm không bánh.
  • Không bán thế.
  • Một tô chín nạm.
Người phụ nữ trông còn khá trẻ nhìn tôi và nói:
  • Tám nghìn.
Tôi nạp đủ tám nghìn xong thì bà ta bảo:
  • Chờ đấy.
Tôi đứng lách sang một bên để cho người đứng kế bên tiến lên. Người đàn ông bên trái liền tay lật đi lật lại miếng thịt chín rồi đặt xuống, nhanh tay thái. Khi đã thấy đủ, ông ta bốc bò vào chiếc bát lớn. Nhìn ông ta thái thịt, lòng cũng vui vui. Tay ông ta nhanh thoăn thoắt nhấn từng nhát với chiếc dao phở to bản. Thỉnh thoảng ông ta lật chiếc dao lại, nhúm một tí thịt tái trải ra và dùng sống dao dần nhẹ lên trên có lẽ để cho thịt tái mềm ra. Đi ăn phở ở Mỹ ở Tây ngay cả ở Đại Hàn không ai thấy được cảnh thái thịt. Ít nhất là cũng yên trí là mình được ăn thịt tươi. Sau khi ông bốc thịt vào bát, bát được chuyển vào giữa và người thiếu phụ bỏ hành ngò xong đẩy bát sang để ông bên phải múc nước lèo.
Tôi nhìn người đàn bà, Hà Nội mù hè sáng bảnh mắt mà đã nóng hừng hực có lẽ vì những con gió Lào, ba ta lại đứng sát lò lửa nên trán lấm tấm mồ hôi, thỉnh thoảng, phải đưa tay lên quệt. Trước mặt bà ta là một đống tiền. Tiền Việt Nam hiện tại có nhiều đơn vị, tờ lớn nhất là nửa triệu và tờ nhỏ nhất là 500 đồng. Những tờ 500, 1000, 2000 có lẽ được in ở những nhà in rẻ tiền và phát hành từ lâu nên trông bèo nhèo nhơm nhếch. Bà ta lúc đếm tiền, lúc thối tiền xong lại bốc hành. Còn đang mải quan sát thì nghe tiếng gọi:
  • Chín nạm của ông kia.
Ông kia là tôi. Tôi long trọng đưa tay nhận bát phở và nhìn quanh để kiếm chỗ ngồi.
Phía trong hơi tối có ba bàn đều kín chỗ. Quay sang phía ngoài, tôi thấy có một chỗ trống ở một chiếc bàn. Bàn là loại bàn vẫn thấy ở những bộ sô pha, thấp và bọc phooc mi ca. Tất cả có bốn chiếc bàn bên ngoài kê trên lề đường sát với một dãy xe gắn máy. Tự nhiên như người Hà Nội, tôi luồn lách, bê tô phở đến chỗ trống. Chiếc ghế bàng nhựa ni lông màu đỏ có hoa xanh nhưng đã phai màu nhỏ tí như ghế con nít. Tôi ngồi xuống thì chợt nhớ ra ăn phở phải có thìa, có đũa. Ngó quanh thấy trên tường có treo một giỏ tre đựng, tôi nhổm lên lấy xuống tiện tay giật luôn hai tờ giấy hình vuông cở lớn hơn lòng bàn tay. Napkin Hà Nội màu ngà ngà, dày như tờ giấy đánh máy.
Vừa trở lại thì có một ông khác đặt tô phở ngay trước mặt tôi. Ông bạn này trông khá trẻ, quần áo đàng hoàng nhưng vẻ mặt thì lạnh tanh. Tôi toan chào làm quen nhưng ngưng lại kịp. Ông ta dáo dác nhìn quanh và nhoài người sang bàn bên cạnh, chỗ bốn người đang xì xụp, lôi về phía bàn tôi một đĩa nhôm đựng quất. Tôi thản nhiên bốc nửa trái quất và với kinh nghiệm xương máu hôm qua, rất từ từ vắt nửa trái quất vào chiếc thìa. À, chiếc thìa yêu dấu của năm chục năm về trước tưởng đã tiêu diêu nơi đâu, nay vẫn sờ sờ trước mặt tôi. Nó được ép bằng nhôm mỏng tanh và cạnh đủ sắc để làm bạn ta sứt môi nếu không cẩn thận. Tôi bóp nhẹ, bóp nhẹ và hai hột quất lòi ra từ từ cùng với nước quất nhiều xuống thìa nhôm. Tôi chơi một lúc ba miếng quất mới đủ cho bát phở. Có cái gì nhờn nhợn trong tôi. Thiên hạ dọa tôi đủ thứ trong đó có vụ đi té re. Nhưng đã đến Hà Nội mà không ăn như người Hà Nội e mất tiếng. Vả lại dân Hà Nội nổi tiếng là sành ăn đến nỗi đã có biết bao nhiêu bút mực để ca tụng món ngon Hà Nội. Tôi tặc lưỡi múc một thìa nước dùng lên húp. A, có mùi truyền thống như hôm qua. Ông bạn ngồi trước mặt tôi lại bỗng ngó dáo dác. Quay qua quay lại, ông ngó xuống bàn lôi lên một lọ tương ớt. Hà, tôi cũng đang cần nó và không bao giờ nghĩ ra nó lại nằm ở đó, trên cái nền đất nhơm nhếch của vỉa hè. Tôi nheo mày nhìn xuống, trên đó, vỏ quất, giấy và không biết còn những thứ gì khác vung vãi khắp nơi. Chờ ông bạn dùng xong, tôi lấy lọ tương ớt và xịt có hơi nhiều với cái suy nghĩ rất nhà quê rằng ớt có nhiều a xít phooc mic đủ giết vi trùng.
Tôi xin nói thật rằng tôi đã ăn hết bát phở chín gầu đó và sau đó không hề đau bụng. Thế có thần diệu không?


 Trên con đường trở về chỗ trọ, tôi thấy lỗi tại tôi trăm bề. Tôi đã đổi, đã thay chứ Hà Nội của tôi vẫn thế, vẫn là Hà Nội của nửa thế kỷ trước. Nơi đây, thời gian ngưng lại và tôi đã khám phá ra điều đó khi nhìn thấy gốc cây sấu được quét vôi trắng. Nó vẫn y như cây sấu của tôi ngày xưa. Tự nhiên tôi phá ra cười. Ngày xưa, ông Sartre nhìn thấy một gốc cây xù xì mà phát hiện ra chủ nghĩa hiện sinh. Tôi vừa nhìn thấy gốc cây sấu, đã phát hiện ra là ở Hà Nội yêu dấu của tôi, thời gian ngưng lại mà đôi khi lại còn đi giật lùi. Tôi có thua gì ông triết gia nổi tiếng này đâu.
Continue Reading... Nhãn:


Ăn phở ở Tokyo


Vũ Đăng Khuê
Phở bò
Dạo này nhiệt độ bên ngoài thường rất gần với con số 0. Câu “chào hỏi” mà người Việt thường dùng mỗi độ… đông về: “Chưa có năm nào lạnh như năm nay” đúng hơn bao giờ hết, sở khí tượng đã “chứng nhận” thì làm sao mà sai được. Trong cái lạnh buốt tự dưng thèm cái gì nóng nóng và hình ảnh tô phở ngút khói bỗng hiện về. Giá như ở Saigon, tôi sẽ bay ngay ra đầu ngõ. Cái ước mơ nhỏ bé: ăn một tô phở tuy đã được “cải thiện” so với mấy chục năm về trước, nhưng thỉnh thoảng vẫn còn xa vời lắm chẳng hạn như mấy hôm nay. Muốn ăn thì phải “hành trang lên đường” hoặc phải “làm đơn xin phép” , nếu được chấp thuận thì phải đợi đến cuối tuần hay cuối tháng khi “cấp trên” ….nghỉ phép, gớm sao mà lâu thế!
Continue Reading... Nhãn:


Quả lừa vĩ đại của Beethoven … hiện đại


Vũ Đăng Khuê

Suốt tuần lễ đầu tháng 2, song song với những bản tin tường trình liên tục về thế vận hội mùa đông Sochi tổ chức tại Nga, nơi mà 113 tuyển thủ Nhật Bản mong là “sẽ” làm nên lịch sử: tối thiểu cũng phải hơn 10 huy chương mà “đa số” là huy chương vàng, nhưng cuối cùng vẫn không thể, chỉ được 8 trong đó chỉ có 1 vàng, 4 bạc, 3 đồng, thì truyền thông Nhật cũng nhắc đi nhắc lại một loạt tin tức thuộc loại “đã” vượt “quá xa” lịch sử: một “quả lừa vĩ đại” ròng rã suốt 18 năm của….

Beethoven thời đại


Mamoru Samuragochi (50 tuổi), “nhân vật chính của giai đoạn lịch sử 1996-2013” sinh trưởng tại Hiroshima, con một gia đình nạn nhân của bom nguyên tử 1945 có “giấy chứng nhận đàng hoàng”. “Người” cao cao dáng đầy nghệ sĩ, có mái tóc dài đến chấm vai, ăn nói nhỏ nhẹ… trông rất ư là hiền triết, “người” đã từng được tuần báo Time năm 2001 tặng danh hiệu “Beethoven thời đại” vì dù mất hoàn toàn thính lực, nhưng “người” đã làm Nhật Bản nở mày nở mặt qua nhiều tấu khúc cổ điển do chính “người” sáng tác.
Theo trang web của “người” và sự quảng cáo rầm rộ của giới truyền thông nặng ký thì “người” có năng khiếu đặc biệt khác thường, say mê những giòng nhạc cổ điển khô khan từ lúc còn “tấm bé”, được mẹ dạy piano khi mới bốn tuổi và đã chơi không vấp váp những tấu khúc của Beethoven và Bach từ năm lên 10. Năm 18 tuổi, người rời Hiroshima “thượng kinh”, tự học nhạc lý, có khả năng soạn nhạc, hòa âm, rành cách sử dụng và phối hợp các nhạc khí. “Người” tâm sự: tôi không thích soạn nhạc theo kiểu hiện tại nên không muốn vào đại học âm nhạc, tôi đã dành thời giờ vừa đi làm lao động vừa tiếp tục viết nhạc theo ý của mình. Công việc sau cùng của “người” là phụ trách phần nhạc nền cho phim ảnh trẻ em, game điện tử.
Đến năm 1996, khi được 35 cái xuân xanh thì tai bị “điếc”, “người” phải đi học khóa “hội thoại bằng tay”, muốn nói chuyện với ai phải qua thông dịch, được thành phố Yokohama công nhận và cấp “chứng minh thư điếc…. cấp 2”  (cấp cao nhất, xe điện có chạy ngay trên đầu thì cũng chẳng nghe được gì). Tuy “điếc”, nhưng “người” vẫn có những tấu khúc để đời nhờ vào thiên khiếu trời cho mà chỉ “người” mới có: "Tôi đi tìm những “âm cảm chính xác” trong vùng tối ….của âm thanh”. 
Chứng minh thư điếc cấp 2

Cũng theo “người” tiết lộ thì cho đến năm 2000, “người” sáng tác được 12 tấu khúc giao hưởng, nhưng người đã “hủy bỏ” tất cả và làm lại từ đầu sau khi bị điếc. “Bản Giao hưởng Hiroshima Số 1” đầu tiên dựa theo cấu tưởng “Bản giao hưởng số 1” của chính “người” khi “người” mới 17 tuổi, tấu khúc này biểu hiện “quang cảnh” 20 phút sau khi bom nguyên tử rơi xuống Hiroshima vào tháng 8/1945. Ra mắt chính thức vào năm 2008 đã đạt kỷ lục chưa từng có với hơn 180.000 CD được bán ra.
Nhạc của “người” được các dàn oschetra danh tiếng sử dụng trong những lần…. lễ lớn, “người” được mời đi khắp nơi dù chỉ…. ngồi cho có mặt, khi dàn nhạc hòa tấu xong thì “người” đứng dậy…. chào khán giả bằng lời tâm sự: “Trời ơi, tôi rất muốn nghe các tấu khúc của tôi” khiến ai nấy đều rưng rưng cảm động vì xót thương cho một nhạc sĩ khuyết tật không nghe được những gì do chính mình viết ra..
Thuận buồm xuôi gió suốt 17 năm, đến năm thứ 18 thì thuyền gặp….. bão to gió lớn khiến

“Beethoven thời đại” bị lật tẩy:
Ông Niigaki Takaashi  -     tuyển thủ trượt băng Takahashi Daisuke 
Đánh hơi thấy được sắp bị lật tẩy, “người” ra tay trước đỡ được phần nào hay phần đó, ngày 5/2, xuyên qua luật sư “người” đã gởi đến báo chí lời thú tội: tấu khúc “Bản Giao hưởng Hiroshima Số 1” và “Tấu khúc cho vỹ cầm” do một người khác viết chứ không phải tôi, vì người đó không thể ra mặt được nên chỉ có tên tôi. Tôi thành thật xin lỗi đã làm mất niềm tin nơi quí vị”.
Trong khi dư luận đang bàng hoàng khi nghe lời thú nhận này thì ngày 6 tháng 2, trước hàng trăm ký giả báo chí, truyền hình, một giáo sư âm nhạc tên Niigaki Takaashi (43 tuổi) đã họp báo công bố tất cả về “cú lừa lịch sử” này. 
Mời quí vị theo dõi bản tóm tắt tổng hợp phần của cuộc họp báo và phần trình bày của ông Niigaki với tờ Shukan Bunshun số ra ngày 13/2 dưới dạng hỏi đáp

Hỏi: Xin cho biết lý do ông công bố những sự thật?
Đáp: Khi nghe tin tuyển thủ trượt băng nghệ thuật Takahashi Daisuke chọn bản “Violin no tame no Sonanechi” (Tấu khúc cho Vĩ cầm) làm nhạc nền cho phần thi đấu của mình tại Thế Vận Hội Mùa Đông Sochi. Sau nhiều cân nhắc, tôi quyết định công bố và xin lỗi mọi người vì tôi cũng là tòng phạm. Dù tuyển thủ Takahashi có bị shock khi nghe sự thật này còn hơn mai này khi đổ bể, thế giới sẽ lên án về sự lừa bịp của Nhật Bản. Tôi muốn tuyển thủ Takahashi biết trước và chọn cho mình thái độ biểu diễn.

Hỏi: Ông gặp Samuragochi trong trường hợp nào?
Đáp: 18 năm trước (1996) qua một người bạn, tôi gặp Samuragochi lúc đó đang phụ trách phần nhạc nền cho các phim truyện, game điện tử. Samuragochi ngỏ ý muốn tôi giúp trong công việc này, tôi nhận lời với tư cách là một ghost writer (người viết lại thành bản nhạc theo chỉ thị của nhạc sĩ chánh). Là một người viết “mướn”, tôi không thắc mắc gì về cách quảng bá hay sử dụng những bản nhạc dù chính tay tôi viết, vì cứ xong 1 “công việc” thì tiền trao cháo múc, hoàn toàn sòng phẳng. 
Hỏi: ông đã viết cho ông này bao nhiêu bài và thù lao thế nào?
Đáp: Khoảng hơn 21 bài và thù lao trên dưới 7 triệu yen (70,000 mỹ kim) 
Hỏi: Hai ông gặp nhau “bàn bạc” ra sao?
Đáp: Chúng tôi gặp nhau trao đổi về “đơn đặt hàng” rất bí mật, không bao giờ có người thứ ba hiện diện.
Hỏi: Ủa ông Samuragochi điếc mà?
Đáp: Từ lúc gặp ông ấy cho tới nay, không bao giờ tôi nghĩ là ông ấy điếc cả. 
Hỏi: Ông có thể cho biết cụ thể?
Đáp: Sau khi soạn xong những đoản khúc ông ấy nhờ, tôi thu lại bằng tiếng piano và cho ông ấy nghe để ông ấy cho ý kiến.
Hỏi: Thế là ông ấy “giả dạng” điếc à?
Đáp: Đúng thế.
Hỏi: Trong những lần xuất hiện trên TV, ông ấy thường có những cử chỉ như điếc thật, có phải ông ta đóng kịch không?
Đáp: Tôi nghĩ là như vậy
Hỏi: Năm 2006, ông này có soạn rồi gửi một tấu khúc đến dàn nhạc của một trường trung học. Ông có biết không?
Đáp: Tôi biết, vì tôi viết tấu khúc này.
Hỏi: Ông cho biết cụ thể hơn. 
Đáp: Ông ấy nói có một cố vấn của một dàn nhạc trường trung học đệ nhị cấp liên lạc, và muốn là có một tấu khúc cho trường và ông ấy nhờ tôi. 
Hỏi: Ông ấy có đưa ra một lời yêu cầu nào về tấu khúc không?
Đáp: Không, tự tôi viết sau khi chính tôi liên lạc với người trách nhiệm dàn nhạc của trường.
Hỏi: Ông có biết gì về tấu khúc nổi tiếng “Bản Giao hưởng Hiroshima Số 1” được giới thiệu năm 2008 không?
Đáp: Năm 2003, ông ấy đưa tôi một “bản thiết kế” nhờ tôi viết một tấu khúc giao hưởng lúc đó có tên “Gendai Tenrei” (Hiện đại điển lễ). Hoàn thành xong, rồi chả thấy ông ấy nhắc nhở gì đến nữa, đùng một cái thì thấy năm 2008 tấu khúc này đã xuất hiện với cái tên“Bản Giao hưởng Hiroshima Số 1”. Sau đó lại trở thành khúc nhạc tưởng niệm dưới tên gọi "Bản giao hưởng của Hy vọng" trong chương trình của đài NHK khi ông ta viếng thăm vùng Tohoku bị sóng thần tàn phá hồi năm 2011.
Bản thiết kế

Hỏi: Tháng 1 năm nay, ông này có hứa là sẽ hoàn thành một tấu khúc tưởng niệm 3 năm ngày động đất (11/3/2014) theo “đơn đặt hàng” của thị xã Motomiya tỉnh Fukushima, ông có biết chuyện này không?
Đáp: Lần đầu tiên tôi mới nghe chuyện này.
Hỏi: Ngoài ông ra có một ghost writer nào khác không?
Đáp: Tôi nghĩ là không vì tất cả các tác khúc mà ông ấy công bố đều do tôi viết.
Hỏi: Trình độ nhạc lý của ông này ra sao? 
Đáp: Ông này không viết nhạc lý được và trình độ piano thì thuộc loại….. “sơ bộ”.
Hỏi: Có bao giờ ông ngăn cản ông này không nên làm như thế nữa không?
Đáp: Từ tháng 5 năm ngoái, tôi đã khuyến cáo rất nhiều lần với ông ta là nên ngưng “trò lừa dối” này. Lần cuối cùng là ngày 15/12 năm ngoái, tôi gặp ông ấy tại nhà riêng ở Yokohama và nói là tôi xin chấm dứt vai trò ghost writer, nhưng ông này không bằng lòng. Vài ngày sau tôi nhận được mail: “nếu ông không tiếp tục giúp, tôi và vợ tôi sẽ…. tự sát”.
Hỏi: Ông nghĩ thế nào về những tài chánh mà ông này có được sau khi công bố những “đại tác khúc”? Ông có dự định đòi lại bản quyền không?
Đáp: Ông ấy nhờ, tôi làm và nhận tiền đầy đủ, tôi không liên quan hay bất mãn gì về vấn đề tác quyền hay tiền bạc gì cả.
Hỏi: Ông có điều gì nói với ông này không?
Đáp: Ông này đã phá vỡ niềm mơ ước của rất nhiều người. Chuyện chúng tôi gặp nhau và “làm việc” với nhau quả là một điều sai lầm


---------------------
Vài ngày sau 12/2, qua luật sư, “Beethoven dỏm” đã viết một bức thư tay dài 8 trang gửi đến báo chí. Hắn thú nhận hầu hết những gì ông Niigaki nói là đúng sự thật, và xin lỗi mọi người vì sự lừa bịp của mình. Chỉ có một điều hắn “không đồng ý” với ông Niigaki là chuyện “điếc”. Hắn viết: “Tôi bị điếc thật….. tuy nhiên từ 3 năm trước tai tôi đã từ từ nghe lại được”
Về chuyện “điếc” thì các bác sĩ chuyên môn cho biết: xác suất từ việc mất thính lực hoàn toàn rồi hồi phục trở lại hầu như không có nếu không qua một cuộc giải phẫu, nhưng chả nghe thấy hắn nói gì về giải phẫu hay giải phiếc gì cả.
Cuối cùng trong lá thư hắn viết: Tôi thề với trời đất tất cả những gì tôi nói là sự thật và xin có dịp chính thức gặp gỡ để xin lỗi quí vị trong một ngày gần đây.”.
Không biết “một ngày gần đây” hay “một ngày rất xa”, chắc là chả ai tin lời thề này. Đây chỉ cách nói cho qua cơn bỉ cực để đợi tiếp… nhưng cơn bỉ cực khác đã, đang, sẽ  dồn dập tới như bị tước quyền thị dân danh dự Hiroshima, bị đưa ra tòa về những thiệt hại của các công ty đĩa nhạc, quảng cáo cho những show trình diễn ….., và sẽ chẳng bao giờ đến hồi thái lai được.
Tin tức về “Beethoven dỏm” này vẫn được báo chí tiếp tục khui ra, kể ra thì lê thê lắm, có thể tóm tắt trong vài chữ: người mang hai giòng máu “nổ-bịp” từ lúc “mới lớn” đến khi “nên người”. 
Xin ngưng ở đây để đi làm chuyện khác.


Vũ Đăng Khuê
Continue Reading... Nhãn: ,


 

Random Posts

Category

  • ( 8 )
  • ( 1 )
  • ( 2 )
  • ( 1 )
  • ( 1 )
  • ( 18 )
  • ( 8 )
  • Bài Vở ( 50 )
  • ( 40 )
  • ( 7 )
  • ( 5 )
  • ( 2 )
  • ( 2 )
  • ( 1 )
  • ( 5 )
  • ( 6 )
  • ( 1 )
  • ( 51 )
  • ( 1 )
  • ( 11 )
  • ( 5 )
  • ( 3 )
  • ( 1 )
  • ( 1 )
  • ( 154 )
  • ( 3 )
  • ( 7 )
  • ( 3 )
  • ( 1 )
  • ( 1 )
  • ( 5 )
  • ( 5 )
  • ( 2 )
  • ( 7 )
  • ( 3 )
  • ( 3 )
  • ( 1 )
  • ( 28 )
  • ( 160 )
  • ( 4 )
  • ( 17 )
  • ( 1 )
  • ( 101 )
  • ( 2 )
  • ( 5 )
  • ( 1 )
  • ( 1 )
  • ( 6 )
  • ( 4 )
  • ( 1 )
  • ( 28 )
  • ( 1 )
  • ( 5 )
  • ( 57 )
  • ( 2 )
  • ( 6 )
  • ( 2 )
  • ( 81 )
  • ( 2 )
  • ( 4 )
  • ( 1 )
  • ( 29 )
  • ( 2 )
  • ( 27 )
  • ( 2 )
  • ( 2 )
  • ( 4 )
  • ( 1 )
  • ( 21 )
  • ( 1 )
  • ( 3 )
  • ( 1 )
  • ( 118 )
  • ( 16 )
  • ( 5 )
  • ( 2 )
  • ( 2 )
  • ( 5 )
  • ( 3 )
  • ( 19 )
  • ( 1 )
  • ( 2 )
  • ( 1 )
  • ( 2 )
  • ( 3 )
  • ( 30 )
  • ( 248 )
  • ( 1 )
  • ( 2 )
  • ( 125 )
  • ( 586 )
  • ( 1534 )
  • ( 30 )
  • ( 5 )
  • ( 7 )
  • ( 1 )
  • ( 224 )
  • ( 11 )
  • ( 1 )
  • ( 33 )
  • ( 6 )
  • ( 6 )
  • ( 16 )
  • ( 5 )
  • ( 3 )
  • ( 8 )
  • ( 222 )
  • ( 2 )
  • ( 1 )
  • ( 1 )
  • ( 35 )
  • ( 5 )
  • ( 21 )

Recent Comments

About Template

Return to top of page Copyright © 2010 | Flash News Converted into Blogger Template by HackTutors